Khác biệt cơ bản giữa thẻ thanh toán quốc tế Visa và MasterCard

ProNexus Team

6 min read
01-12-2020 | Tín dụng

Hai loại thẻ thanh toán quốc tế được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới hiện nay là Visa và MasterCard. Tuy nhiên, không phải mọi người dùng đều có thể phân biệt rõ ràng ưu và nhược điểm của chúng. 

 

Tổng quan

Ngành thanh toán điện tử thống trị bởi 4 “ông lớn" là Visa, MasterCard, American Express và Discover. Những công ty này chịu trách nhiệm xử lý chủ yếu các giao dịch thanh toán điện tử toàn thế giới. Hai công ty đầu tiên không trực tiếp phát hành hoặc mở rộng thẻ. 

Điều đó có nghĩa là các thẻ thanh toán quốc tế có nhãn Visa hoặc MasterCard là các thẻ đồng thương hiệu do các đối tác ( ví dụ tại Việt Nam là các ngân hàng thương mại) làm đại lý. Mặc dù hai công ty không phát hành hay gia hạn cho bất kỳ loại thẻ nào, nhưng họ hợp tác với các công ty hoặc ngân hàng để cung cấp các sản phẩm bao gồm thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, và thẻ trả trước.

Tìm hiểu về thẻ thanh toán quốc tế Visa và MasterCard

Visa và MasterCard là hai công ty có hệ thống xử lý các giao dịch duy nhất tham gia vào cả ba lĩnh vực của thị trường thanh toán. Cùng hoạt động kinh doanh sâu rộng trong lĩnh vực thanh toán điện tử, tuy nhiên, hai công ty có những lợi thế riêng cũng như cách vận hành khác nhau.

Đây là hai công ty đại chúng. Visa (ký hiệu giao dịch V) đạt mức vốn hóa thị trường 365 tỷ đô la trong khi MasterCard (ký hiệu giao dịch MA) theo sát phía sau ở mức 293 tỷ đô la (vốn hóa thị trường tính đến ngày 3 tháng 3 năm 2020). Vì không công ty nào mở rộng tín dụng hoặc phát hành thẻ, cả hai đều cung cấp nhiều danh mục sản phẩm, dịch vụ đồng thương hiệu.

Mô hình kinh doanh của cả hai công ty rất giống nhau. Visa và MasterCard không phát hành thẻ trực tiếp cho công chúng mà thông qua các tổ chức tài chính thành viên đối tác như ngân hàng hoặc liên minh tín dụng. Sau đó, tổ chức tài chính thành viên phát hành thẻ thanh toán thẻ cho các cá nhân và doanh nghiệp, liên kết trực tiếp hoặc hợp tác với hãng hàng không, khách sạn hoặc các thương hiệu bán lẻ.

Các điều khoản

Tổ chức tài chính phát hành đặt ra các điều khoản và điều kiện của thẻ thanh toán, bao gồm lệ phí, tiền thưởng và các chi phí khác. (Các nhà bán lẻ thường làm việc với một tổ chức tài chính bên thứ ba). Đối với thẻ tín dụng, ngân hàng phát hành có trách nhiệm phát hành, chính sách lãi suất và các chương trình điểm thưởng cho khách hàng.

Tổ chức phát hành thẻ cũng có thể cung cấp các tính năng, dịch vụ khác như bảo mật, chống trộm cắp danh tính và gian lận, hoặc chiết khấu mua hàng,... Mặc dù những khác biệt về lãi suất, hạn mức tín dụng, chương trình phần thưởng,... được kiểm soát bởi tổ chức tài chính phát hành, hai công ty Visa và MasterCard cạnh tranh dựa trên mối quan hệ đối tác đồng thương hiệu và cũng có tham gia trong việc xây dựng điều khoản thẻ.

Nhìn chung, lĩnh vực thanh toán quốc tế qua thẻ tương đối phức tạp, liên quan đến bên bán hàng, ngân hàng phát hành, quá trình xử lý giao dịch và chủ thẻ. Việc áp dụng phí và lập báo cáo được phát triển bởi hai công ty Visa và MasterCard và đây cũng là hai trong những khác biệt chủ yếu của hai công thanh toán này.

Thẻ Visa

Năm 2019, doanh thu của Visa đạt mức 23 tỷ đô la với khối lượng thanh toán là 8,8 nghìn tỷ đô la. 9 Sản phẩm chủ yếu của Visa bao gồm: thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và thẻ trả trước cũng như các giải pháp kinh doanh và dịch vụ ATM toàn cầu. Liên quan đến việc lập báo cáo thanh toán, có những mảng sau:

  • Dịch vụ
  • Xử lý dữ liệu
  • Giao dịch quốc tế
  • Khác

Cả Visa và MasterCard đều kiếm được phần lớn doanh thu từ phí dịch vụ và xử lý dữ liệu nhưng hai công ty áp dụng cách tính phí khác nhau. Phí dịch vụ được tính cho nhà phát hành và dựa trên số lượng thẻ.

Phí xử lý dữ liệu thường cũng được tính cho nhà phát hành, thực chất bên phát hành sau đó sẽ lấy lại khoản tiền này bằng cách tính phí cho các bên bán hàng mỗi lần một giao dịch được thực hiện. Phí xử lý dữ liệu thường tương đối thấp và cố định là chi phí cung cấp thông tin giao dịch được truyền thông trên mạng.

Nhìn chung, Visa được biết đến với việc cung cấp ba cấp độ thẻ: cơ bản (Base), chữ ký (Signature) và không giới hạn (Infinite). Các loại này đi kèm với các điều khoản tiêu chuẩn cho các tổ chức phát hành.

Trong khi thẻ Visa có khối lượng giao dịch và số lượng thẻ đang lưu hành lớn hơn số lượng mua và thẻ đang lưu hành, cả hai loại thẻ Visa và Mastercard có độ nhận diện toàn cầu gần như giống nhau.

Thẻ MasterCard

Năm 2019, MasterCard đã tạo ra tổng doanh thu là 16,9 tỷ đô la, với khối lượng thanh toán là 6,5 nghìn tỷ đô la. Sản phẩm cốt lõi của MasterCard bao gồm tín dụng tiêu dùng, ghi nợ tiêu dùng, thẻ trả trước và kinh doanh sản phẩm thương mại. MasterCard còn có một lĩnh vực khác đó là cung cấp Giải pháp thanh toán phân bổ rộng khắp các khu vực địa lý.

Giống như Visa, MasterCard kiếm được phần lớn doanh thu từ phí dịch vụ và xử lý dữ liệu. Tuy nhiên, phí dịch vụ cho MasterCard được thương lượng và tính theo phần trăm khối lượng đô la toàn cầu. Phí xử lý dữ liệu được gọi là phí chuyển đổi. Phí chuyển đổi là một khoản chi phí cố định nhỏ cho mỗi giao dịch, được tính cho công ty phát hành.

MasterCard có 3 cấp độ thẻ là: cơ bản (Base), toàn cầu (World) và tinh hoa toàn cầu (World Elite).

 

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài